Quy trình tư vấn giáo dục sức khỏe

      105

Theo thông tư 07/2011/TT-BYT, quy định 12 nhiệm vụ chuyên môn của Điều dưỡng viên trong chăm sóc người bệnh. Trong đó nội dung thứ nhất là: Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe.

Bạn đang xem: Quy trình tư vấn giáo dục sức khỏe

Bệnh viện có quy định và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp.

Trong quá trình điều trị, người bệnh sẽ được điều dưỡng viên, hộ sinh viên tư vấn, giáo dục sức sức khỏe cũng như hướng dẫn chăm sóc, theo dõi và phòng bệnh trong thời gian nằm viện.

Định nghĩa tư vấn giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏe được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi những nhà nghiên cứu khác nhau.

“Giáo dục sức khỏe nhằm thu hẹp khoảng cách giữa những điều đã biết về thói quen sức khỏe thích hợp nhất và những điều đang được thực hành trên thực tế” (Griffiths, 1972) .

“Mang lại những thay đổi hành vi có hại cho sức khỏe ở các cá nhân, nhóm người và quần thể lớn hơn để trở thành hành vi có lợi cho sức khỏe hiện tại và tương lai” (Simonds, 1976).

“Bất kỳ sự kết hợp kinh nghiệm học tập nhằm tạo thuận lợi cho việc thích nghi tự nguyện các hành vi có lợi cho sức khỏe” (Green, Kreuter, Deeds, và Partridge, 1980). 

“Quá trình giúp đỡ các cá nhân, thực hiện riêng biệt hoặc tập thể để ra quyết định về những vấn đề ảnh hưởng tới sức khỏe của họ và của những người khác” (Nhóm Công tác Quốc gia về Chuẩn bị và Thực hành cho những người làm công tác giáo dục sức khỏe, 1985).

Những khía cạnh chung của các khái niệm này là giáo dục sức khỏe bao gồm không những các hoạt động hướng dẫn và các chiến lược để thay đổi hành vi sức khỏe cá nhân mà còn là sự nỗ lực của tổ chức, định hướng chính sách, sự hỗ trợ về kinh tế, các hoạt động môi trường, truyền thông và các chương trình cấp cộng đồng. 

Hành vi sức khỏe

Định nghĩa về hành vi sức khỏe

Giáo dục sức khỏe cố gắng ảnh hưởng tới hành vi sức khỏe. Hành vi sức khỏe được định nghĩa, ví dụ như: 

Bất kỳ hoạt động nào được thực hiện vì mục đích phòng hay phát hiện bệnh hoặc cải thiện sức khỏe và sự khỏe mạnh (Conner and Norman,1996).

Các mô hình hành vi, hành động và thói quen liên quan tới việc duy trì sức khỏe, hồi phục và cải thiện sức khỏe (Gochman, 1997). 

Các hành vi trong định nghĩa này bao gồm: 

Sử dụng dịch vụ y tế (vd. đi khám bác sĩ, tiêm phòng và sàng lọc) 

Tuân thủ chế độ điều trị (ví dụ: chế độ ăn tiểu đường, chống tăng huyến áp). 

Hành vi sức khỏe tự định hướng (ví dụ: chế độ ăn, thể dục, hút thuốc và uống rượu). 

Tại cơ sở y tế, giáo dục sức khỏe được thực hiện cho những cá nhân nguy cơ cao, người bệnh, gia đình người bệnh và cộng đồng xung quanh cũng như đào tạo lại cho nhân viên y tế là tất cả các phần của chăm sóc y tế ngày nay. 

Hành vi phòng ngừa

Phòng ngừa tiên phát - can thiệp trước khi những ảnh hưởng tới sức khỏe xảy ra thông qua các biện pháp như tiêm phòng, thay đổi những hành vi có nguy cơ (thói quen ăn uống xấu, sử dụng thuốc lá) và cấm các chất được cho là có liên quan đến bệnh tật và tình trạng sức khỏe.

Phòng ngừa thứ phát - sàng lọc để xác định bệnh ở giai đoạn sớm nhất, trước khi xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng thông qua các biện pháp như chụp X quang vú và kiểm tra huyết áp thường xuyên.

Phòng ngừa cấp 3 - xử lý bệnh sau chẩn đoán để làm chậm lại hoặc ngừng sự tiến triển của bệnh thông qua các biện pháp như hóa trị, phục hồi chức năng và sàng lọc các biến chứng.

Phòng ngừa nguyên thủy - phòng ngừa các yếu tố rủi ro liên quan đến điều kiện xã hội và môi trường.

Hiểu biết về sức khỏe

Hiểu biết về sức khỏe cho thấy việc đạt được mức độ kiến thức, kỹ năng cá nhân và sự tự tin để thực hiện hành động cải thiện sức khỏe cá nhân và cộng đồng qua việc thay đổi lối sống cá nhân và điều kiện sống. Do vậy, hiểu biết về sức khỏe có ý nghĩa nhiều hơn là có thể đọc tờ rơi và hẹn gặp. Bằng cách cải thiện việc tiếp cận thông tin y tế của con người khả năng sử dụng thông tin hiệu quả, hiểu biết về sức khỏe là sự trao quyền tích cực. (The WHO Health Promotion Glossary1998)

Để xây dựng chương trình giáo dục sức khỏe, các nhân viên y tế phải xem xét mỗi bước của quá trình hiểu biết về sức khỏe và xác định cho phù hợp. 

*

(Nakayama và CSl. Hiểu biết SK (bằng tiếng Nhật). Chỉnh sửa bởi tác giả) 

Vai trò tư vấn sức khoẻ của người Điều dưỡng

Vai trò của người điều dưỡng trong hệ thống y tế hiện nay đã có nhiều thay đổi so với trước kia. Cùng với vai trò là người chăm sóc sức khoẻ, việc tư vấn sức khoẻ cho người bệnh và gia đình người bệnh là rất quan trọng. Với kiến thức và những kinh nghiệm qua thực tế chăm sóc người bệnh, điều dưỡng sẽ tư vấn cho người bệnh và người nhà NB cách chăm sóc phù hợp, hiệu quả, giúp người bệnh nhanh chóng hồi phục sức khỏe, ví dụ: ăn gì, uống gì, nên kiêng cái gì, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, tập luyện phù hợp, chăm sóc vệ sinh phù hợp, cách sử dụng thuốc (theo đơn) và theo dõi khi dùng thuốc…

Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh nhận biết và đương đầu với những căng thẳng về tâm lý, tác động của bệnh tật; hoặc những vấn đề của gia đình, xã hội liên quan tới người bệnh. Người điều dưỡng tập trung khuyến khích người bệnh xây dựng ý thức tự kiểm soát. 

Tư vấn có thể thực hiện với cá thể người bệnh hoặc nhóm người, việc tư vấn không nhất thiết phải theo khuôn mẫu hay quy trình, thường là lồng ghép trong quá trình điều dưỡng thực hiện chăm sóc người bệnh. Để việc tư vấn sức khoẻ phù hợp và hiệu quả, đòi hỏi người điều dưỡng phải có kỹ năng nhận định, phân tích tình hình, tổng hợp thông tin, lựa chọn nội dung và phương pháp tư vấn phù hợp, đánh giá quá trình tiến triển của người bệnh sau khi đã được tư vấn. Chăm sóc sức khoẻ hiện nay chú trọng nhiều tới việc nâng cao và duy trì sức khỏe hơn là chỉ chữa bệnh thuần túy. Vì vậy, người bệnh và gia đình cần có thêm kiến thức và kỹ năng tối thiểu để tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn ngày nằm viện, giúp người bệnh tự theo dõi và chăm sóc khi xuất viện.

Thuyết thay đổi hành vi

Xác định các yếu tố quyết định ảnh hưởng tới hành vi sức khỏe và ra quyết định triển khai chiến lược giáo dục sức khỏe phù hợp là năng lực cần thiết cho cán bộ y tế trong đó có điều dưỡng. Các thuyết thay đổi hành vi có thể giúp xây dựng các hoạt động giáo dục sức khỏe.

Trong phần này giới thiệu một số lý thuyết và mô hình của cá nhân và mức độ giữa các cá nhân thường được áp dụng tại cơ sở y tế.

Mô hình niềm tin sức khỏe

Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) chú trọng vào nhận thức của cá nhân về mối nguy do các vấn đề sức khỏe gây ra (sự mẫn cảm, mức độ nặng), lợi ích của việc phòng tránh mối nguy và các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định để hành động (các rào cản, tín hiệu để hành động và năng lực bản thân).

Mô hình niềm tin sức khỏe là một trong những lý thuyết hành vi sức khỏe đầu tiên và cũng là mô hình được công nhận rộng rãi nhất trong lĩnh vực này. Nó được phát triển vào những năm 1950 để giải thích tại sao chỉ có ít người tham gia vào các chương trình phòng ngừa và phát hiện bệnh tật. Mô hình niềm tin sức khỏe là phù hợp đối với việc chú trọng vào các hành vi có vấn đề làm dấy lên những quan tâm về sức khỏe (vd. hành vi tình dục nguy cơ cao và khả năng nhiễm HIV). 

*

(Chỉnh sửa bởi tác giả)

Khi áp dụng mô hình niềm tin sức khỏe để lập kế hoạch các chương trình sức khỏe, người hành nghề cần nỗ lực trong việc hiểu đối tượng đích của mình cảm thấy nhạy cảm như thế nào đối với các vấn đề sức khỏe, liệu họ có tin rằng vấn đề đó nghiêm trọng hay không và liệu họ có tin vào hành động giảm mối đe dọa ở mức giá chấp nhận được hay không. Nỗ lực để thay đổi hiện quả trong những yếu tố này hiếm khi đơn giản như nó hiện hữu. 

Thuyết hành vi dự định 

Thuyết hành vi dự định (TPB) khám phá mối quan hệ giữa hành vi và niềm tin, thái độ và sự can thiệp. Thuyết hành vi dự định cho rằng chủ ý về hành vi là yếu tố quyết định hành vi quan trọng nhất. Theo những lý thuyết này, chủ ý hành vi được ảnh hưởng bởi thái độ của một người hướng tới thực hiện hành vi và bởi niềm tin về việc liệu những cá nhân quan trọng đối với một người có chấp thuận hay không chấp thuận hành vi (quy tắc chủ quan). Thuyết hành vi dự định cho rằng tất cả các yếu tố khác (vd. văn hóa, môi trường) có tác dụng thông qua cấu trúc của mô hình và không giải thích một cách độc lập khả năng mà một người sẽ hành xử theo cách nào đó. (Theory at a Glance, 2005)

*

(Chỉnh sửa bởi tác giả)

Thuyết nhận thức xã hội

Thuyết nhận thức xã hội (SCT) mô tả quá trình năng động đang diễn ra trong đó yếu tố con người, yếu tố môi trường và hành vi của con người có ảnh hưởng lẫn nhau. Theo Thuyết nhận thức xã hội, ba yếu tố chính ảnh hưởng khả năng một nguời sẽ thay đổi hành vi sức khỏe: (1) tự tin vào năng lực bản thân, (2) mục tiêu, và (3) sự kỳ vọng kết quả. Nếu các cá nhân có ý thức tự kiểm soát hoặc tự tin vào năng lực bản thân, họ có thể thay đổi hành vi kể cả khi đối mặt với những trở ngại. Nếu họ không cảm thấy rằng họ có thể luyện tập kiểm soát hành vi sức khỏe của mình, họ sẽ không có động lực để hành động hoặc kiên trì qua những thách thức. Khi một người chấp nhận các hành vi mới, điều này tạo ra những thây đổi ở cả môi trường và con người. Hành vi không đơn giản là sản phẩm của môi trường và con người, và môi trường cũng không đơn giản là sản phẩm của con người và hành vi. (Theory at a Glance, 2005)

*

(Chỉnh sửa bởi tác giả với Theory at a Glance, 2005)

*

 

TRUYỀN THÔNG TRONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE

Truyền thông là một trong các kỹ năng quan trọng nhất của người cán bộ giáo dục sức khỏe. Phương tiện giúp cho con người có mối liên hệ gần gũi với nhau trong môi trường sống chính là truyền thông qua ngôn ngữ, bằng cả lời nói và không lời, với sự hỗ trợ của một số phương tiện.

Truyền thông là cầu nối giữa người với người. Johnson (1986) coi truyền thông như là phương tiện, qua đó một người chuyển thông điệp đến người khác và mong nhận được sự đáp lại (thông tin phản hồi).

Các khâu cơ bản của truyền thông Truyền thông gồm 3 khâu cơ bản:

Nguồn phát tin

Kênh truyền tin

Người nhận tin

*

Sơ đồ 1. Ba khâu cơ bản của truyền thông

Hiệu quả của quá trình truyền thông phụ thuộc vào cả 3 khâu cơ bản này. Nếu tin tức được phát ra từ nguồn phát tin không được chuẩn bị kỹ thì thông tin có thể không chính xác, không đến được với người nhận, hoặc thông tin đến với người nhận nhưng người nhận không hiểu được, do thông tin khó hiểu, không đủ, không phù hợp,… Khi thông tin truyền qua các kênh truyền tin có thể có các yếu tối làm nhiễu, sai lạc. Trình độ, đặc điểm cá nhân và hoàn cảnh thực tế của người nhận sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả tiếp nhận thông tin.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của truyền thông, việc tách rời và xem xét riêng biệt từng yếu tố: Người nhận, nguồn phát, kênh truyền thông và thông điệp sẽ thuận lợi để xây dựng chương trình truyền thông hiệu quả.

Tác động của truyền thông đến đối tượng đích

Truyền thông có thể tác động đến đối tượng đích qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Truyền thông tới được đối tượng

Truyền thông chỉ có hiệu quả khi đối tượng đích phải nghe, nhìn thấy các thông điệp. Thông tin phải trực tiếp đến với đối tượng vào lúc họ có thể nghe được, nhìn được. Để đạt được điều này phải tìm hiểu đối tượng đích, phát hiện nơi mà họ có thể xem pa nô, áp phích và các thói quen nghe đọc.

*

Sơ đồ 2. Các giai đoạn ảnh hưởng của truyền thông đến đối tượng đích

Giai đoạn II: Thu hút sự chú ý của đối tượng

Bất kỳ hình thức truyền thông giáo dục sức khỏe nào cũng cần thu hút sự chú ý của đối tượng, làm cho đối tượng chú ý nghe, xem và đọc thông điệp. Bất kỳ thời điểm nào, khi đối tượng tiếp nhận thông tin từ năm giác quan, đối tượng thường không tập trung chú ý vào tất cả mọi tiếp nhận từ các giác quan. Sự chú ý là quá trình mà mà đối tượng có thể chọn phần hấp dẫn nhất của thông điệp để tập trung chú ý vào một sự kiện nhất định nào đó và bỏ qua các sự kiện khác cùng một thời gian. Có nhiều yếu tố môi trường khiến cho người ta chú ý hay không chú ý tới một sự kiện, vì thế vấn đề quan trọng là làm thế nào gây được sự chú ý của đối tượng vào vấn đề.

Giai đoạn III: Hiểu các thông điệp

Một người chỉ chú ý đến thông điệp khi người đó muốn hiểu thông điệp đó. Hiểu thông điệp còn gọi là sự nhận thức. Nhận thức là quá trình chủ quan của mỗi người. Hai người cùng nghe một chương trình hay cùng xem một bức tranh có thể giải thích thông điệp khác nhau, điều đó cũng dẫn đến sự đáp trả khác nhau.

Giai đoạn IV: Thúc đẩy các thay đổi

Truyền thông không dừng lại ở việc tiếp nhận, hiểu biết thông điệp mà tiếp theo là sự tin tưởng và chấp nhận thông điệp. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc tin

tưởng thông điệp. Sẽ dễ thay đổi nếu thông tin người ta mới tiếp nhận gần đây, ngược lại với thông tin có từ lâu, sẽ quá khó để thay đổi nó! 

Giai đoạn V: Tạo ra và thay đổi trong hành vi

Truyền thông có thể dẫn đến kết quả là nâng cao nhận thức, thay đổi niềm tin nhưng không tác động thay đổi hành vi. Nguyên nhân là do truyền thông không hướng vào thay đổi niềm tin mà niềm tin lại ảnh hưởng nhiều nhất tới hành vi của họ. Một người có thể có thái độ tốt và muốn thực hiện hành động, ví dụ: sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, đưa trẻ đi tiêm chủng… tuy nhiên, áp lực từ người khác ngăn cản họ làm việc này. Một lý do khác khiến người ta không thực hiện hành vi vì thiếu các yếu tố như tiền, thời gian, kỹ năng hay các dịch vụ y tế. Như vậy muốn thay đổi hành vi của đối tượng ở giai đoạn này cần tạo ra môi trường và các điều kiện hỗ trợ cho đối tượng.

Giai đoạn VI: Nâng cao sức khỏe

Nâng cao sức khỏe chỉ xảy ra khi các hành vi đã được đối tượng lựa chọn và thực hiện một cách thích hợp trên cơ sở khoa học vì thế nó tác động đến sức khỏe. Nếu thông điệp lỗi thời, nó sẽ không có hiệu quả. Vì vậy, cần đảm bảo các thông điệp chính xác, khoa học và cập nhật.

Xem thêm: Cách Chữa Bệnh Đường Ruột Ở Chó, Chó Bị Bệnh Đường Ruột: Dấu Hiệu Và Cách Chữa

 

CÁC YẾU TỐ LÀM CHO TRUYỀN THÔNG GIAO TIẾP CÓ HIỆU QUẢ

Yêu cầu cần có của người làm truyền thông giáo dục sức khỏe.

Để đạt được kết quả, người làm công tác Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ (TT- GDSK) phải có tiêu chuẩn sau:

Có kiến thức về y học: Người TT- GDSK phải có đủ kiến thức y khoa cần thiết để soạn thảo các thông điệp phù hợp với từng loại đối tượng.

Có kiến thức về tâm lý học, khoa học hành vi: Để phân tích tâm lý, hành vi của các đối tượng từ đó chọn cách giao tiếp phù hợp.

Có kiến thức và kỹ năng về giáo dục học: Thực chất TT- GDSK là dạy học vì thế đòi hỏi cán bộ TT- GDSK cần có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm.

Hiểu biết về văn hóa xã hội, phong tục tập quán và những vấn đề của cộng đồng: Để đảm bảo có cách tiếp cận phù hợp và nhận được sự chấp thuận của cộng đồng.

Nhiệt tình trong công tác TT-GDSK: Đây là tiêu chuẩn đạo đức mà bất kỳ người cán bộ TT- GDSK nào cũng cần phải có.

Yêu cầu đối với thông điệp giáo dục sức khỏe

Thông điệp cần chứa đựng nội dung cốt lõi cần được truyền thông, bao gồm tranh ảnh, đồ vật hấp dẫn và âm thanh để chuyển tải ý tưởng qua đó. Để đảm bảo TT- GDSK hiệu quả thì thông điệp truyền đi cần có các tiêu chuẩn sau:

Rõ ràng: Người gửi có thể làm cho thông điệp rõ ràng bằng cách chuẩn bị cẩn thận trước khi gửi thông điệp đi. Cần xác định rõ mục tiêu, điều gì người gửi muốn người nhận suy nghĩ và làm theo. Sau đó sử dụng các câu từ hoặc biểu tượng đơn giản để diễn đạt thông điệp.

Chính xác: Người gửi cần đảm bảo thông điệp của mình là chính xác. Thông điệp cần ngắn gọn dễ nhắc lại được. Trước khi nói hoặc viết cần chọn từ khóa để chuyển tải thông điệp rõ ràng và loại bỏ các từ thừa để tránh gây nhầm lẫn cho đối tượng.

Hoàn chỉnh: Người gửi có thể làm cho thông điệp gửi đi hoàn chỉnh bằng cách chọn lựa các thông tin đến người nhận để họ hiểu, tiếp thu và hành động theo. Ví dụ khi gửi một thông điệp yêu cầu người khác làm một việc nào đó, thường nêu rõ:

Việc gì cần phải làm?

Vì sao phải làm việc đó?

Làm việc đó như thế nào?

Ai là người làm việc đó?

Làm việc đó khi nào?

Làm việc đó ở đâu?

Nếu thông điệp không hoàn chỉnh người nhận có thể hiểu lầm hoặc đáp ứng không đúng với mong muốn.

Có tính thuyết phục

Các thông điệp phải mang tính thuyết phục đối tượng. Để thuyết phục, các thông điệp phải mang tính khoa học, thực tiễn, tính đúng đắn của hành động được yêu cầu thực hiện, đáp ứng nhu cầu đặt ra của đối tượng nhận thông điệp. Nếu cần, có thể đưa ra lý do tại sao cần thực hiện hành động đó. Mọi người thường có phản ứng tốt hơn khi họ nhận ra lý do tại sao nên thực hiện theo cách này mà không phải cách khác, nhất là khi họ nhận thấy lợi ích của hành động đó. Cân nhắc chọn hình thức chuyển tải thông điệp để làm cho thông điệp có tính thuyết phục đặc biệt chú ý từ ngữ, hình ảnh minh họa phải xúc tích, ngắn gọn và gây ấn tượng mạnh cho đối tượng nhận thông tin.

Có khả năng thực hiện được

Ý nghĩa quan trọng là thông điệp cần có khả năng làm cho người ta thực hiện được (khả thi). Vì vậy người gửi phải hiểu rõ người nhận, dự đoán được với khả năng của họ và sự hỗ trợ của người khác để họ có thể thực hiện được thông điệp hay không.

Trên đây là năm yêu cầu của một thông điệp, được coi là các nguyên tắc cơ bản hướng soạn thảo thông điệp trong TT- GDSK. Các nguyên tắc cơ bản này cần được áp dụng cho cả các thông điệp nói và viết.

Một thông điệp chỉ có hiệu quả khi trình bày rõ ràng về vấn đề liên quan đến đối tượng đích, thích hợp về nội dung và hình thức, được chấp nhận và đưa ra bằng phương pháp có thể hiểu được. Khi đưa ra một thông điệp nào người soạn thảo cần phải dự kiến khả năng tiếp nhận của đối tượng tiếp nhận.

Cách tốt nhất để đảm bảo thông điệp tốt là phải thử nghiệm thông điệp đó trên nhóm đối tượng đích và tham khảo ý kiến các đồng nghiệp trước khi chính thức sử dụng rộng rãi trong cộng đồng.

*

Sơ đồ 3. Các đặc điểm đặc trưng của thông điệp tốt

Hấp dẫn

Hấp dẫn là cách chúng ta tổ chức thông điệp để thu được lòng tin và sự thuyết phục của mọi người. Có nhiều cách khác để tạo sự hấp dẫn cho thông điệp.

Sợ hãi: Thông điệp có thể cố gắng để đe dọa mọi người hành động, bằng cách đưa ra hậu quả nghiêm trọng do không thực hiện hành động. Cách biểu tượng như là giả người chết, bộ xương, mô hình biến dạng..., có thể được sử dụng. Các bằng chứng cho thấy sự xuất hiện sợ hãi trong đầu có thể dẫn đến hai sự chú ý và tạo ra quan tâm dẫn đến thay đổi. Tuy nhiên quá sợ hãi sẽ làm cho mọi người không chấp nhận và từ chối thông điệp. Ví dụ: GDSK về hút thuốc lá tại nước Anh, bằng cách đưa ra các bệnh về phổi và mô tả ảnh hưởng xấu của thuốc lá, việc làm này ít mang lại hiệu quả với những người hút thuốc vì bản thân họ đã xây dựng hàng rào chắn với truyền thông.

Hài hước: Thông điệp được chuyển đi bằng cách buồn cười như phim hoạt hình, các câu truyện, tranh biếm họa. Hài hước là cách tốt nhất để thu hút sự quan tâm thích thú. Hài hước đồng thời cũng có vai trò giảm bớt căng thẳng khi phải đối phó với những vấn đề trầm trọng. Thư giãn và giải trí có thể dẫn đến hiệu quả tốt, làm cho người ta ghi nhớ và học tập tốt. Tuy nhiên không phải hài hước luôn luôn dẫn đến những thay đổi niềm tin và thái độ. Hài hước cũng mang tính rất chủ quan - những điểu mà người này thấy buồn cười thì lại không làm cho người khác buồn cười.

Hấp dẫn logic/sự việc thật: Nhấn mạnh vào các thông điệp bằng cách truyền đi nhu cầu cần phải hành động, với việc đưa ra các sự thật như số liệu, thông tin về nguyên nhân của bệnh tật, vấn đề sức khỏe…

Hấp dẫn về tình cảm: Cố gắng thuyết phục mọi người bằng cách khêu gợi tình cảm, những tưởng tượng, tình cảm hơn là đưa ra các sự việc và số liệu, ví dụ như chỉ ra nụ cười của những đứa trẻ mạnh khỏe, những gia đình có hố xí vệ sinh sống mạnh khỏe, những hành động liên quan đến tình dục an toàn tạo nên hạnh phúc.

Thông điệp một mặt: Chỉ trình bày những ưu điểm của thực hiện hành động mà không đề cập đến bất kỳ nhược điểm có thể xảy ra nào.

Thông điệp hai mặt: Trình bày cả ưu điểm và nhược điểm khi thực hiện hành động.

Những thu hút qua thông điệp tích cực: Truyền thông yêu cầu mọi người làm việc gì đó: ví dụ như nuôi con bằng sữa mẹ, xây dựng hố xí.

Thu hút qua thông điệp tích cực và tiêu cực: Thu hút qua thông điệp âm tính là sử dụng thuật ngữ như “tránh”, “không” để khuyến khích mọi người không thực hiện những hành vi có hại cho sức khỏe, chẳng hạn như “không nuôi con bằng chai sữa”, “không đi đại tiện bừa bãi” vv... Phần lớn các nhà giáo dục sức khỏe đồng tình dùng thông điệp tích cực (tốt hơn thông điệp tiêu cực) để thúc đẩy các hành vi có lợi cho sức khỏe ví dụ như “hãy nuôi con bằng sữa mẹ”, “sử dụng hố xí hợp vệ sinh”…

Cấu trúc thông điệp: Theo lý thuyết, thông điệp có sử dụng bất kỳ giác quan nào trong năm giác quan: nhìn, sờ, nghe, nếm, ngửi. Tuy nhiên giác quan sử dụng chính trong truyền thông là nghe và nhìn. Những thông tin có thể chuyển đi qua tiếng động, các từ có thể ở dạng nói hoặc viết hay qua lời hát. Thông tin cũng có thể chuyển đi dưới dạng không phải bằng từ ngữ: Truyền thông không lời; Truyền thông không lời bao gồm: dáng điệu, cử chỉ tay chân, hướng nhìn, giọng nói và vẻ mặt. Truyền thông không lời luôn được phối hợp với truyền thông bằng lời trong các phương pháp truyền thông trực tiếp. Cùng một thời gian, cùng một đối tượng người TT-GDSK có thể sử dựng nhiều phương pháp để truyền thông điệp đến đối tượng.

Nội dung thực sự của thông điệp: Nội dung thực sự của thông điệp bao gồm các từ, các bức tranh và tiếng động tạo nên sự hấp dẫn của thông điệp truyền đi. Trong chương trình của đài/loa phát thanh, nội dung có thể bao gồm: lời khuyên, các từ ngữ, giọng nói, âm thanh. Một áp phích có thể bao gồm: những bức tranh, các từ hay cụm từ ngắn gọn, ảnh, các biểu tượng và các loại màu sắc khác nhau.

Trong truyền thông qua thị giác có thể thực hiện “phân tích thị giác” và phân tích nội dung của truyền thông thị giác một cách cụ thể hóa:

Điều gì thực sự được nói đến, từ nào được sử dụng

Kiểu chữ nào được sử dung: Chữ in, chữ thường, chữ thẳng hay chữ nghiêng?

Kích thước của các loại chữ?

Màu và phương pháp in ấn?

Tranh được sử dụng (minh họa) là gì, các loại ảnh nào được đưa vào, các đường vẽ đơn giản hay chi tiết hoặc tranh hoạt hình?

Kích thước và màu của các bức tranh ra sao?

Yêu cầu với kênh truyền thông

Kênh truyền thông phải phù hợp với đối tượng: Khi chọn kênh thông tin phải quan tâm đến khả năng tiếp cận với kênh thông tin của đối tượng đích. Nguyên tắc chọn kênh truyền thông là đảm bảo tối đa nhóm đối tượng đích có đủ các điều kiện để thu nhận được thông tin từ kênh truyền thông đó.

Các phương tiện, thiết bị phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật. Ví dụ như các phương tiện nghe nhìn chuyển tải các hình ảnh, âm thanh, lời nói, chữ viết phải rõ ràng, đầy đủ. Cố gắng hạn chế đến mức tối đa tình trạng trục trặc kỹ thuật xảy ra khi đang truyền thông, có thể gây gián đoạn hay ức chế người nghe, người xem, làm cho họ không tiếp tục chú ý đến chương trình.