31
Cây Vòi voi là một cây cỏ mọc hoang khắp nơi trong nước ta. Nó cũng được sử dụng trong y học dân gian của nhiều nước. Tuy nhiên đây lại là một loại cây có độc tính và có thể dẫn đến những tác hại cho người. Hãy cùng tìm hiểu về cây cỏ này, cũng như công dụng và nguy cơ từ nó qua bài viết sau.

Bạn đang xem:


1. Giới thiệu cây thuốc

Cây Vòi voi có nhiều tên khác như Dền voi, Cẩu vĩ trùng, Đại vĩ đao, Nam độc hoạt. Cây có tên khoa học Heliotropium indicum L., thuộc họ Vòi voi Boraginaceae.

Đây là một loại cỏ cao từ 25 đến 40cm, thân khô, cứng, mang nhiều cành. Xung quanh thân có nhiều lông nhám, cứng, khỏe. Lá hơi nhăn nheo, sần sùi, có hình trứng dài. Cả 2 mặt đều có lông, các mép lá có răng cưa không đều.

*
*
*
*
*
Vòi voi có thể gây độc trên gan

5. Kinh nghiệm sử dụng Vòi voi ở các nước

Ở Indonesia, nước sắc từ lá dùng trị bệnh nấm Candida. Tại Lào, Campuchia, người ta dùng Vòi voi sắc uống hoặc đắp trị viêm sưng tấy, bong gân, thâm tím, đụng giập, viêm họng, áp xe, thấp khớp.

Ở Thái Lan, nước sắc phần trên mặt đất của cây dùng làm thuốc hạ sốt, chống viêm, rễ trị bệnh về mắt. Tại Tây Phi, người ta dùng để trị chàm, chốc lở. Ở Ấn Độ, cây còn được dùng làm mềm da, lợi tiểu, trị vết thương, nhọt lở ở lợi. Nước sắc chồi non trị ho, ghẻ; nước sắc rễ trị ho, sốt; nước sắc lá trị mày đay.

6. Một số bài thuốc có Vòi voi

6.1. Chữa sai khớp, bong gân, sau khi đã chỉnh hình các khớp

Vòi voi (lá và hoa) 30g, 1 củ tỏi, muối ăn 10g. Tất cả giã nát, đắp vào chỗ sưng tấy, băng chặt.

6.2. Chữa vết thương phần mềm

Vòi voi 50g, Sài đất 200g, Tô mộc 20g. Sắc nước, ngâm rửa bên ngoài

6.3. Viêm phổi, mủ màng phổi

60g cây tươi, đun sôi trong nước, uống với mật ong. Hoặc giã 60g – 120g cây tươi, lấy dịch và uống với mật.

6.4. Giảm sưng amydal bằng Vòi voi

Dùng lá tươi, nghiền ra, lấy dịch súc miệng.

6.5. Chữa phong thấp, nhức mỏi, tê bại, đau các khớp xương

Vòi voi khô 300g, rễ Nhàu rừng 200g, củ Bồ bồ 150g, Cỏ mực 100g.

Xem thêm: Lịch 6 Bài Tập Giảm Mỡ Bụng Trong 1 Tuần, 7 Bài Tập Giảm Mỡ Bụng Nhanh Nhất Trong 1 Tuần

Các vị hiệp chung, tán nhuyễn, vò ra viên bằng hạt tiêu. Mỗi lần uống 20-30 viên, ngày 2-3 lần.

7. Vòi voi trong các nghiên cứu gần đây

Nghiên cứu cho thấy các hoạt chất trong cây như Helindicin, lycopsamine,… có hoạt tính kháng viêm, chống oxy hóa.

Một nghiên cứu tiến hành trên chuột bị viêm loét dạ dày cho thấy chiết xuất nước từ lá có tác dụng giúp bảo vệ dạ dày, ruột, lành các tổn thương viêm, loét. Tác dụng này có thể do thành phần tanin, alkaloid và saponin của nó.

Để chứng minh tác dụng chữa lành vết thương của cây, người ta nghiên cứu trên chuột tạo vết thương trên da. Kết quả cho thấy chiết xuất Vòi voi giúp kháng viêm, tăng sinh mô hạt, mau lành vết thương, cả vết thương nhiễm trùng.

Từ độc tính của cây, người ta thấy chiết xuất của nó có thể diệt ấu trùng muỗi Anopheles stephensi, Aedes aegyptiCulex quinquefasciatus. Đây là những loài muỗi làm lây truyền bệnh nguy hiểm như sốt rét, sốt xuất huyết. Kết quả này thể hiện Vòi voi có tiềm năng được sử dụng như một cách tiếp cận thân thiện với môi trường lý tưởng để kiểm soát muỗi gây bệnh.

8. Lưu ý

Một số loài vòi voi có tên khoa học H.lariocarpum Fish et Mey chứa chất ancaloid có nhân pyrolizidinn rất độc đối với gan và gây hủy hoại tổ chức gan, đau bụng tiêu chảy, xuất huyết lan tỏa và có thể gây ung thư. Độc tính thường khó phát hiện vì không có phản ứng ngay khi dùng, mà xuất hiện một cách âm ỉ, kéo dài.

Vì vậy, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo không nên dùng vòi voi làm thuốc. Ở Việt Nam, Bộ Y tế (1985) cũng đã có khuyến cáo cần thận trọng khi dùng vòi voi chữa bệnh, mặc dù chỉ dùng ngoài để đắp theo kinh nghiệm cổ truyền cho các trường hợp tụ huyết bầm tím do chấn thương, viêm tấy áp-xe, sưng vù, sưng khớp, đinh nhọt giai đoạn chưa có mủ. Khi có kết quả nên ngừng ngay. Chú ý không dùng cho người già yếu.

Tốt nhất người bệnh không nên tự ý sử dụng bài thuốc có vòi voi tại nhà trước khi được chỉ định từ các thầy thuốc có chuyên môn Y học cổ truyền.

Vòi voi là một cây cỏ hoang thường gặp. Theo kinh nghiệm dân gian, nó được dùng để điều trị đau xương khớp, các bệnh lý ngoài da, vết thương phần mềm. Các nghiên cứu gần đây phần nào chứng minh những tác dụng này. Tuy nhiên, cây thuốc này có thể gây độc trên gan, cũng như gây sảy thai, vì vậy không nên tự ý uống để tránh tác dụng không mong muốn.


Trang tin y tế bacsixanh.com chỉ sử dụng các nguồn tham khảo có độ uy tín cao, các tổ chức y dược, học thuật chính thống, tài liệu từ các cơ quan chính phủ để hỗ trợ các thông tin trong bài viết của chúng tôi. Tìm hiểu về Quy trình biên tập để hiểu rõ hơn cách chúng tôi đảm bảo nội dung luôn chính xác, minh bạch và tin cậy.

Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. NXB Y học, Hà Nội Võ Văn Chi (2012). Từ điển Cây thuốc Việt Nam, tập 2. NXB Y học, Hà Nội. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung và cs. (2004), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 2. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. Souza, J. S. N., Machado, L. L., Pessoa, O. D., Braz-Filho, R., Overk, C. R., Yao, P., ... & Lemos, T. L. (2005). Pyrrolizidine alkaloids from Heliotropium indicum. Journal of the Brazilian Chemical Society, 16(6B), 1410-1414. Dash, G. K., & Murthy, P. N. (2011). Studies on wound healing activity of Heliotropium indicum Linn. leaves on rats. ISRN pharmacology, 2011. Adelaja, A. A., Ayoola, M. D., Otulana, J. O., Akinola, O. B., Olayiwola, A., & Ejiwunmi, A. B. (2008). Evaluation of the histo - gastroprotective and antimicrobial activities of heliotropium indicum linn (boraginaceae). The Malaysian journal of medical sciences : MJMS, 15(3), 22–30. Veerakumar, K., Govindarajan, M., Rajeswary, M. et al. Mosquito larvicidal properties of silver nanoparticles synthesized using Heliotropium indicum (Boraginaceae) against Aedes aegypti, Anopheles stephensi, and Culex quinquefasciatus (Diptera: Culicidae). Parasitol Res 113, 2363–2373 (2014). Reddy, J. S., Rao, P. R., & Reddy, M. S. (2002). Wound healing effects of Heliotropium indicum, Plumbago zeylanicum and Acalypha indica in rats. Journal of ethnopharmacology, 79(2), 249-251.